
Lê Quý Đôn, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, sinh ra trong gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Cha Ông và cha vợ đều là Tiến sĩ, làm quan trong triều.
Từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã được gọi là “thần đồng”, nổi tiếng thông minh, có trí nhớ tuyệt vời lại ham học hỏi; năm 5 tuổi đã có thể đọc nhiều bài thơ trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, Lê Quý Đôn đã thông thạo kinh điển Nho học; năm 17 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hương; năm 24 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hội; năm 26 tuổi, đỗ đầu thi Đình.
Sau khi đỗ Bảng nhãn, từ năm 1752 Lê Quý Đôn bắt đầu bước vào sự nghiệp quan trường và giữ nhiều chức vụ quan trọng của Triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm viện thừa chỉ sung Toản tu Quốc sử quán (1754); Hàn lâm viện thị giảng (1757); năm 1760 và 1762 được cử đi sứ sang nhà Thanh; Đốc đông xứ Kinh Bắc (1764); Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc Tử giám (1767); Tán lí quân vụ, Thị phó đô ngự sử (1768); Công bộ hữu thị lang (1769); Bồi tụng (1773); Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài Quốc sử quán (1775); Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (1776); Hiệp trấn Nghệ An (1783); Công bộ thượng thư (1784)...
Trong bối cảnh chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XVIII nhiều bất ổn, các cuộc tranh đoạt quyền lực giữa các thế lực cầm quyền vẫn diễn ra ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, đời sống người dân điêu đứng, mâu thuẫn giữa Nhân dân và tầng lớp cầm quyền ngày càng nặng nề, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục...; với hoài bão kinh bang tế thế, Lê Quý Đôn luôn mong muốn thi hành những cải cách, thiết định những pháp chế nhằm lập lại trật tự để đất nước ổn định, thịnh trị, Nhân dân được vui hưởng thái bình. Do vậy, dù ở vị trí nào Ông cũng thể hiện là một vị quan tài năng, mẫn cán, thanh liêm, luôn gần gũi Nhân dân, luôn muốn cải thiện và đem lại cuộc sống ấm no hơn cho người dân bằng những hành động thiết thực.
Năm 1784, Ông lâm bệnh nặng, xin về quê ngoại Duy Tiên, Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) an dưỡng và qua đời sau đó không lâu; Vua cho bãi triều ba ngày để tang Ông.
- Đại Việt thông sử (Lê triều thông sử), 30 quyển, năm soạn: 1749-1753.
- Phủ biên tạp lục, 6 quyển, năm soạn: 1776.
- Bắc sứ thông lục, 4 quyển, năm soạn: 1763, viết lời tựa năm 1780.
- Kiến văn tiểu lục, 12 quyển, năm soạn: 1777.
- Âm chất văn chú, 2 quyển, năm soạn: 1781-1782.
- Tứ thư ước giải (Tứ thư giải thích), 5 quyển (khắc in năm 1839).
- Quần thư khảo biện, 4 quyển, năm soạn: 1757-1761.
- Thánh mô hiền phạm lục, 12 quyển, năm soạn: 1759.
- Vân đài loại ngữ, 4 quyển, năm soạn: 1773.
- Thư kinh diễn nghĩa, 3 quyển, năm soạn: 1772.
- Toàn Việt thi lục, 20 quyển, năm soạn: 1768.
- Hoàng Việt văn hải, 10 quyển.
- Quế Đường thi tập, tổng tập thơ gồm 550 bài thơ chữ Hán.
- Văn thơ viết bằng chữ Nôm: Lê Quý Đôn tiên phong sử dụng chữ Nôm trong văn bản hành chính, trở thành một trong những người viết ký bằng văn xuôi Nôm sớm nhất của Đại Việt qua bài Khải được lưu lại trong cuốn Bắc sứ thông lục.
- Bài Rắn đầu biếng học, thể thơ “thất ngôn bát cú”.
- Bài Mẹ ơi con muốn lấy chồng, thể văn “kinh nghĩa” dùng trong thi cử.
- Bài Mẹ khuyên con lúc về nhà chồng, thể văn “kinh nghĩa”.
- Bài Lấy chồng cho đáng tấm chồng, thể “văn sách” dùng trong thi cử.
Ban biên tập trang TTĐT xã
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập